Ngày 29/5, tại tỉnh Sóc Trăng, Trung tâm Ứng dụng và Dịch vụ khoa học công nghệ thuộc Cục Công tác phía Nam – Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Sóc Trăng tổ chức Hội thảo khoa học “Tiềm năng và hiệu quả ứng dụng hệ thống giám sát, cảnh báo tự động một số chỉ tiêu chất lượng nước trong nuôi tôm tại Sóc Trăng”.

ội thảo nêu trên là một trong những nội dung thuộc khuôn khổ dự án “Hỗ trợ thương mại hóa hệ thống giám sát, cảnh báo tự động một số chỉ tiêu môi trường nước phục vụ nuôi tôm thâm canh nước mặn, lợ trong ao đất tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long” thuộc Chương trình quốc gia – Chương trình Phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 (CTr2075) do Trung tâm Ứng dụng và Dịch vụ Khoa học và Công nghệ (Trung tâm STAS) thuộc Cục Công tác phía Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị chủ trì.

Được biết, ngành nuôi tôm Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển to lớn với quy hoạch nuôi tôm thẻ chân trắng đến năm 2020 tầm nhìn 2030 là 100.000/670.000 ha (Quyết định số 5528/QĐ–BNN-TCTS do Bộ Nông nghiệp  và Phát triển Nông thôn ban hành ngày 31/12/2015). Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về sản lượng và diện tích, ngành nuôi tôm Việt Nam đang gặp phải những khó khăn về vấn đề dịch bệnh cũng như vấn đề mất mùa. Trong 5 năm qua, vấn đề dịch bệnh trong nuôi tôm chủ yếu do môi trường nước, vấn đề giám sát các chỉ tiêu môi trường nước nuôi tôm của Việt Nam còn lạc hậu, trong khi các nước khác trên thế giới đã có những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ giám sát môi trường nước nuôi. Vấn đề này đặt ra cho Việt Nam sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong xuất khẩu con tôm.

Hiện nay, vấn đề ứng dụng công nghệ mới trong nuôi trồng thủy sản, trong đó có con tôm là một đòi hỏi cấp thiết mà các ngành, các cấp, nhà khoa học và người nuôi tôm phải quan tâm.

Tại hội thảo, TS Phan Thanh Lâm – Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 cho biết: “Để giám dịch bệnh, gia tăng tỷ lệ thành công trong nuôi tôm, việc đảm bảo chất lượng nước là chìa khóa để thành công. Muốn đảm bảo được chất lượng nước, thì trước hết cần phải theo dỏi và giám sát. Tuy nhiên, cùng với việc gia tăng mật độ nuôi, việc giám sát chất lượng nước (đặc biệt là với các chỉ tiêu chất lượng nước quan trọng) ảnh hưởng đáng kể tới sự sinh trưởng của tôm. Nếu chỉ dùng cách thông thường là bằng các kit đo, thực hiện một vài lần trong ngày hay trong tuần không còn đảm bảo được sự an toàn cho ao nuôi tôm. Do đó, việc ứng dụng các công nghệ mới, có khả năng giám sát liên tục các chỉ tiêu chất lượng nước quan trọng, có tốc độ biến đổi nhanh trở thành một nhu cầu thiết yếu. Những công nghệ như vậy đã được các nước ứng dụng rộng rãi trong nuôi thủy sản khi nuôi với mật độ cao và đây cũng là xu hướng tất yêu của ngành nuôi tôm Việt Nam”.

Cũng tại hội thảo, ThS. Phan Phương Trình, Công Ty Cổ Phần Khoa Học & Công Nghệ CENINTEC đã giới thiệu chi tiết hệ thống giám sát cảnh báo tự động chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản (hệ thống e-AQUA) .Hệ thống này có chức năng lấy mẫu từ các điểm đo (tối đa 8 điểm đo) trong các ao nuôi tôm đưa về bộ phận trung tâm hệ thống để phân tích. Kết quả sau đó được chuyển vào server và lưu trữ trên dữ liệu đám mây để người dùng có thể theo dõi qua các thiết bị di động. Các chức năng của hệ thống giám sát gồm: Giám sát tự động và liên tục các chỉ tiêu chất lượng nước cho nhiều điểm đo trên các ao nuôi sử dụng hệ thống đo; Cảnh báo tự động khi các chỉ tiêu giám sát nằm ngoài ngưỡng cho phép; Lưu trữ và phân tích dữ liệu lịch sử của mỗi vụ nuôi; Cảnh báo cúp điện tại ao nuôi. Hệ thống cũng thiết kế sẵn các cổng để tích hợp thêm các cảm biến nhằm sẵn sàng nâng cấp thêm các chỉ tiêu NH3, NO2, H2S tương ứng theo yêu cầu của người dùng. Nhóm thực hiện dự án cũng thông tin thêm thời gian sắp tới, nhóm nghiên cứu sẽ phát triển công nghệ của hệ thống để có thể tích hợp điều khiển tự động các thiết bị trong ao nuôi dựa trên kết quả giám sát.

Nguồn: Minh Thành – soctrang.gov.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *